Bật mí những tác dụng trị bệnh từ cây Táo nhân Táo nhân hay còn được gọi với tên khác là Toan táo nhân, Nhị nhân hay Sơn táo nhân…là một loại cây thuốc quý, với vô số công dụng tốt cho sức khỏe con người.Nội dung trong bài viết1 Táo nhân hay còn được gọi với tên khác là Toan táo nhân, Nhị nhân hay

Bật mí những tác dụng trị bệnh từ cây Táo nhân

726

Táo nhân hay còn được gọi với tên khác là Toan táo nhân, Nhị nhân hay Sơn táo nhân…là một loại cây thuốc quý, với vô số công dụng tốt cho sức khỏe con người.

Táo nhân thường mọc hoang hay được trồng ở nước ta

Táo nhân thường mọc hoang hay được trồng ở nước ta

Thông tin cần biết về cây Táo nhân

Táo nhân là loại cây thuộc họ Họ Táo Ta (Rhamnaceae), có tên khoa học là Zizyphus jujuba Lamk. Cây táo là cây ăn quả quen thuộc, được trồng ở nhiều địa phương, đồng thời cũng là một cây thuốc quý. Cây cao 2m -4 m, có gai, cành buông thõng. Lá hình bầu dục ngắn hoặc hơi thon dài, mặt trên màu xanh lục nhẵn, mặt dưới có lông trắng, mép có răng cưa, có 3 gân dọc lồi lên rõ rệt. Hoa trắng, mọc thành xim ở kẽ lá. Quả hạch vỏ ngoài nhẵn , lúc non màu xanh, khi chín hơi vàng, vỏ quả giữa vị ngọt hơi chua, quả có 1 hạch cứng sù sì, trong chứa 1 hạt dẹt gọi là Táo nhân.

Theo y học cổ truyền, Táo nhân có vị chua, ngọt, tính bình có tác dụng Dưỡng tâm, an thần, liễm hãn, Bổ trung, kiện cân cốt, ích Can khí, trợ âm khí, Dưỡng Can, ninh Tâm, liễm hãn.

Một số thành phần hóa học có trong Táo nhân

Các giảng viên khoa Cao đẳng Xét nghiệm TPHCM tại Trường Cao đẳng Y dược TP HCM cho biết, trong cây Táo nhân có chứa một số thành phần hóa học như: Betulin, Betulinic acid, Ceanothic acid, Alphitolic acid; Jujuboside; Sanjoinine, A, B, E, F, D, G1, G2, Ib, Ia, K; Nuciferine, Norisocorydine, Frangufoline,Nornuciferine, Coclaurine, N-Methylasimilobine, Zizyphusine, Caaverine, 5-Hydroxy-6-Methoxynoraporphine, Amphibine-D, Sanjoinenine (Byung Hoon Han và cộng sự, Phytochemistry.

Tác dụng dược lý của Táo nhân

Về tác dụng dược lý các dược sĩ, giảng viên tại Trường Cao đẳng Y dược TP HCM chia sẻ một vài tác dụng như:

  • Thuốc có công dụng hạ áp và chống loạn nhịp (Trung Dược Học).
  • Thuốc có tác dụng giảm đau và hạ nhiệt. Có tác dụng đối kháng với chứng cuồng do Morphin (Trung Dược Học).
  • Thực nghiệm chứng minh Táo nhân sống và sao đều có tác dụng an thần, gây ngủ. Thành phần gây ngủ là Saponin Táo nhân (Trung Dược Học).
  • Trên thực nghiệm súc vật , Táo nhân phối hợp dùng với Ngũ vị tử có tác dụng chống choáng do phỏng và giảm phù nề vùng phỏng (Trung Dược Học).

Ứng dụng Táo nhân vào một vài đơn thuốc trị bệnh hay

Táo nhân được vận dụng vào nhiều bài thuốc trị bệnh hiệu quả

Táo nhân được vận dụng vào nhiều bài thuốc trị bệnh hiệu quả

  • Chữa mồ hôi ra nhiều quá, đã uống thuốc cố biểu mà cũng không cầm được mồ hôi: Táo nhân 40, sao đen, nghiền nát. Thêm Sinh địa, Mạch môn, Ngũ vị tử, Long nhãn nhục, Trúc diệp, lượng bằng nhau, sắc uống (Giản Tiện phương).  Chia 3 tổ nghiên cứu trị 60 ca mất ngủ: Dùng Táo nhân sao, giã nát; Táo nhân nửa sao, nửa sống; Táo nhân sống, gĩa nát. Đều dùng 45 g, thêm Cam thảo 4,5g, sắc uống trước lúc ngủ đều có kết quả an thần, giúp ngủ tốt hơn. Cả 3 tổ không có khác biệt rõ và không có tác dụng phụ (Trung Tây Y kết Hợp Tạp Chí 1982, 2: 97).
  • Chữa cốt chưng, trong xương nóng âm ỉ, tâm phiền, mất ngủ: Táo nhân 40 g, sao đen, tán mịn thành bột, hòa với nước ngâm ít lâu, rồi vắt lấy nước cốt, nấu với cháo cho nhừ, lại thêm 1 chén nước cốt Sinh địa, nấu chín đều, ăn (Thái Bình Thánh Huệ phương).
  • Chữa bị gai đâm vào trong thịt: Táo hạch, đốt tồn tính, tán bột, uống 8 g với nước sẽ ra ngay (Ngoại Đài Bí yếu).
  • Chữa mất ngủ: Bột Táo nhân 6 g, hòa uống trước khi đi ngủ, trị 20 ca, kết quả tốt(Trung Tây Y kết Hợp Tạp Chí 1982, 2: 97).
  • Trị lao phổi hoặc nguyên nhân khác dẫn đến sốt về chiều, mất ngủ, nhiều mồ hôi: Táo nhân (sao), Sinh địa đều 20g, Gạo tẻ 40 g, sắc lấy nước uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị mồ hôi trộm do âm hư: Táo nhân (sao) 20g, Đảng sâm, Phục linh đều 12g. tán mịn thành bột, uống với nước cơm hoặc sắc uống (Trị Đạo Hãn Phương – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị thần kinh suy nhược, hay quên, ăn uống kém, mỏi mệt, không có sức: Táo nhân (sao) 16 g, Viễn chí (chích), Xương bồ đều 8g, Đảng sâm, Phục linh đều 12g. Sắc uống hoặc tán mịn thành bột, uống với nước cơm (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị huyết hư, mồ hôi nhiều, tâm thần không yên, hồi hộp, mất ngủ, đầu choáng, hoa mắt: Táo nhân (sao) 20 g, Tri mẫu, Phục linh đều 12g, Xuyên khung, Cam thảo đều 8 g, sắc uống (Toan Táo Nhân Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Các lương y tại Trường Cao đẳng Y dược TP HCM cũng lưu ý rằng những người phàm kinh Can, Đởm và Tỳ có thực nhiệt, Can vượng, phiền táo, mất ngủ do Can cường: không dùng; Có thực tà, uất hỏa: không dùng.




Xem thêm : Cao dang Dieu Duong Ha Noi, Xet tuyen Cao dang Duoc Ha Noi nam 2017